lô đề miền bắc

Đánh giá kết quả triển khai 18 Đề án trọng tâm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Lào Cai khóa XVI, nhiệm kỳ 2020-2025, năm 2023
Lượt xem: 193
CTTĐT - Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã xây dựng, ban hành 18 Đề án trọng tâm giai đoạn 2020 - 2025 theo Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 11/12/2020. Sau 03 tổ chức triển khai thực hiện đã đạt được những kết quả cụ thể như sau:

I.TÌNH HÌNH CHUNG

Năm 2023 là năm thứ 03 triển khai thực hiện 18 Đề án trọng tâm giai đoạn 2020 - 2025 theo Nghị quyết số 03-NQ/TU ngày 11/12/2020; Đảng bộ tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, đẩy nhanh tiến độ, triển khai thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu của từng đề án. Triển khai thực hiện nhiệm vụ 18 đề án trọng tâm năm 2023, trong bối cảnh Tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có diễn biến phức tạp, khó lường; xung đột Nga - Ukraine; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; lạm phát toàn cầu tăng cao, cùng chính sách tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất kéo dài và tỷ giá biến động mạnh tại nhiều quốc gia, khu vực tác động mạnh, trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh, lao động, việc làm trong nhiều ngành, lĩnh vực. Trongnước nói chung và tỉnh Lào Cai nói riêng giá cả hàng hóa, vật tư, vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho sản xuất, kinh doanh, nhất là giá xăng dầu, chi phí đầu vào, vận tải tăng cao ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư xây dựng. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh phục hồi chậm. Một số quy định, chính sách pháp luật của nhà nước còn không rõ, chồng chéo, khó thực hiện; các dự án lớn liên quan đến phát triển tỉnh Lào Cai thuộc thẩm quyền của Trung ương chậm được giải quyết; hạ tầng kết nối chưa đồng bộ; thị trường xuất khẩu gặp khó khăn; thị trường bất động sản trầm lắng....

Nhận diện rõ những khó khăn, thách thức, đồng thời xác định việc thực hiện các nhiệm vụ của 18 đề án trong năm 2023 là cơ sở quan trọng để Đảng bộ tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ; vì vậy, ngay từ đầu năm Tỉnh ủy tiếp tục bám sát các chủ trương, chỉ đạo của Trung ương và Chương trình công tác năm, xác định các nhiệm vụ trọng tâm để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo; chỉ đạo các đảng bộ trực thuộc, các cơ quan, đơn vị, địa phương rà soát kết quả triển khai sau ½ từ đó chỉ ra các khó khăn, vướng mắc trong điều hành, triển khai nhiệm vụ của từng đề án để có các giải pháp khắc phục, tháo gỡ khó khăn kịp thời. Do vậy, kết quả thực hiện 18 đề án trọng tâm trong năm 2023 cơ bản đáp ứng được yêu cầu.

II. CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO, CHỈ ĐẠO

Ngay sau khi 18 Đề án trọng tâm giai đoạn 2020 – 2025 được ban hành, Tỉnh ủy đã tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các nội dung của 18 Đề án. Trên cơ sở các đề án của Tỉnh ủy các đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy, các đơn vị chủ trì triển khai đề án đã chủ động xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện; các huyện ủy, thị ủy, thành uỷ, đảng ủy trực thuộc Tỉnh ủy đã chỉ đạo các chi bộ, đảng bộ trực thuộc, cơ quan, ban, ngành, đoàn thể các huyện, thành phố bám sát vào các mục tiêu Đại hội, các đề án, nhất là các chỉ tiêu liên quan trực tiếp đến địa phương, cơ quan, đơn vị biên soạn những nội dung cơ bản để tuyên truyền, xây dựng chương trình hành động, đề án, kế hoạch thực hiện, học tập, quán triệt, triển khai đến cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Các đảng bộ cơ sở xã, phường, thị trấn đã chỉ đạo bantuyên vận các xã, thị trấn, tổ tuyên vậnthônbản,tổdân phố tập trung tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị, triển khai nghị quyết đại hội đảng các cấp, các chương trình, đề án của Tỉnh ủy, cấp ủy cấp trên qua các hội nghị tuyên vận tháng và các hội nghị lồng ghép ở thôn bản.Triển khai phát động phong trào thi đua trong nhân dân nhằm đạt các mục tiêu đề án.

Tỉnh ủy chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc ban hành Kế hoạch thực hiện giai đoạn 2020 - 2025 và Kế hoạch thực hiện hằng năm làm căn cứ cho các cấp, các ngành chủ động triển khai thực hiện; chỉ đạo rà soát, ban hành các cơ chế chính sách giai đoạn 2020 -2025; ban hành các văn bản chỉ đạo điều hành, tổ chức thực hiện;chủ động làm việc với các bộ, ngành Trung ương để tháo gỡ khó khăn và nguồn lực cho thực hiện các Đề án.

Công tác tuyên truyền, phổ biến, triển khai các đề án được thực hiện tích cực, hình thức đa dạng như tuyên truyền qua các cuộc hội nghị của các ngành, địa phương, một số đề án tuyên truyền qua các lớp tập huấn cho xã, huyện (như đề án nông nghiệp, lâm nghiệp, nông thôn mới…), thông qua các hội thi, các cơ quan truyền thông, Cổng thông tin điện tử tỉnh, các cổng thông tin của các cơ quan, ban ngành, địa phương tuyên truyền về các hoạt động, kết quả đạt được của các đề án. Qua đó, đã tạo sự chuyển biến lớn trong nhận thức của người dân, phát huy sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành để thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra.

Tỉnh ủy chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát đối với các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc trong việc triển khai 18 Đề án trọng tâm; Thường trực, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tổ chức làm việc với một số Đảng bộ trực thuộc và một số sở, ngành của tỉnh về công tác triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp, 18 Đề án trọng tâm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh; các giải pháp thực hiện nhiệm vụ trọng tâm năm 2023 và giai đoạn đến 2025; các Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Hội nghị Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy đều có các đánh giá, chỉ đạo bảo đảm thực hiện hiệu quả các nội dung của 18 Đề án trọng tâm.

III. KẾT QUẢ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN

18 Đề án có 225 mục tiêu nhằm cụ thể hóa, thực hiện 24 mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai Khóa XVI; mục tiêu các đề án phấn đấu cao hơn hoặc bằng với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lào Cai lần thứ XVI. Sau 03 năm trong tổng số 225 mục tiêu của 18 đề án, đến nay cơ bản đã được các cấp, các ngành triển khai thực hiện. Kết quả: Có 103 mục tiêu đạt và vượt 100% MTĐA, chiếm 45,8%; có 67 mục tiêu đạt trên 70% MTĐA, chiếm 29,8%; có 37 mục tiêu đạt trên 50% so với MTĐA, chiếm 16,4%; có 13 mục tiêu đạt dưới 50%, chiếm 5,8%; có 05 mục tiêu chưa thực hiện, chiếm 2,2% (chủ yếu là các chỉ tiêu đưa ra chưa phù hợp với thực tế).Cụ thể như sau: 

1.1. Đề án 01: Đề phát triển nông, lâm nghiệp, sắp xếp dân cư, xây dựng nông thôn mới tỉnh Lào Cai, giai đoạn 20202025

1.1.1. Kết quả đạt được

Sản xuất nông, lâm nghiệp năm 2023 đạt kết quả tốt.Sản xuất gieo cấy bảo đảm khung thời vụ; công tác chuẩn bị giống cho sản xuất được chuẩn bị đầy đủ, đảm bảo cho sản xuất; công tác theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra tình hình sâu bệnh hại trên cây trồng được thực hiện thường xuyên, hiệu quả. Tổng sản lượng lương thực có hạt ước đạt 330.450 tấn, bằng 107% MTĐA, giá trị canh tác đạt 95 triệu đồng/01 ha, bằng 95% MTĐA.Chăn nuôi đại gia súc và gia cầm phát triển tương đối ổn định, thủy sản phát triển cả về diện tích mặt nước, năng suất, sản lượng, dần khẳng định vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp tỉnh.Sản lượng thịt hơi các loại ước đạt 72.000tấn,bằng105% MTĐA.Sản lượng thủy sản ướcđạt 12.300 tấn, bằng 112%MTĐA. Công tác quản lý bảo vệ rừng, sử dụng rừng được quan tâm; tư duy phát triển kinh tế lâm nghiệp của các doanh nghiệp, hợp tác xã, nhân dân đã có nhiều đổi mới; trồng rừng xã hội hóa được thực hiện mạnh mẽ. Tỷ lệ che phủ rừng ước đạt 58,5%, bằng 97,5% MTĐA. Chương trình xây dựng nông thôn mới tiếp tục triển khai tích cực. Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) được triển khai đồng bộ, khai thác tốt tiềm năng, lợi thế trong việc phát triển các sản phẩm chủ lực của địa phương gắn với thị trường và du lịch. Trong năm 2023 dự kiến lũy kế toàn tỉnh có 62/127 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 65,9% MTĐA; 05 xã được công nhận xã nông thôn mới nâng cao; 2 đơn vị cấp huyện được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, đạt 50% MTĐA.

Trongtổng số 13 mục tiêu Đề án, có 03 chỉ tiêu đạt 100% và vượt MTĐA, 06 chỉ tiêu đạt trên 70% so với MTĐA, 03 chỉ tiêu đạt trên 50% so với MTĐA, 01 chỉ tiêu đạt dưới 50% so với MTĐA (chỉ tiêu về sắp xếp ổn định dân cư thiên tai, ĐBKK, biên giới).

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 12.701 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 5.833 tỷ đồng, đạt 45,9% tổng nhu cầu vốn.

1.1.2. Tồn tại, hạn chế

- Công tác tuyên truyền, áp dụng quy chuẩn kỹ thuật trong sản xuất tại cơ sở đã được quan tâm nhưng hiệu quả chưa cao; nhiều quy định, quy chuẩn khó áp dụng vào thực tế sản xuất do điều kiện canh tác của một số xã vùng cao, khó áp dụng được cơ giới hóa vào sản xuất. Công tác quản lý, kinh doanh giống, thuốc bảo vệ thực vật tại các địa phương và các chợ phiên vùng cao còn gặp nhiều khó khăn.

- Hình thức tổ chức sản xuất còn yếu, cơ bản vẫn là kinh tế hộ, manh mún nhỏ lẻ; các hình thức tổ chức, liên kết sản xuất mang tính tự phát. Liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm hầu hết là liên kết dưới hình thức thu mua sản phẩm, chưa có sự ràng buộc, gắn kết giữa doanh nghiệp và người dân.

- Công tác xúc tiến đầu tư còn hạn chế, chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư chiến lược xây dựng các nhà máy chế biến sâu nông sản để nâng cao giá trị sản phẩm; công nghệ chế biến lạc hậu, sản phẩm chế biến còn đơn điệu, hầu hết các cơ sở chế biến chỉ sản xuất bán thành phẩm, xuất khẩu dưới dạng thô.

- Việc triển khai thực hiện 03 Chương trình mục tiêu quốc còn gặp nhiều khó khăn do các hướng dẫn của các bộ, ngành Trung ương còn chậm; công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc còn gặp lúng túng, chậm trong việc triển khai thực hiện các nội dung.

- Công tác bố trí sắp xếp dân cư còn gặp kho khăn do chưa bố trí nguồn kinh phí thực hiện, hầu hết các huyện chủ động bố trí nguồn dự phòng để triển khai; Quỹ đất ở, đất sản xuất để bố trí cho các hộ nằm trong vùng thiên tai nguy hiểm cần phải di chuyển rất hạn chế, đặc biệt là quỹ đất để xây dựng các dự án sắp xếp dân cư tập trung.

1.2. Đề án 02: Đề án phát triển dịch vụ, kinh tế cửa khẩu tỉnh Lào Cai  giai đoạn 2020 -2025

1.2.1. Kết quả đạt được

Năm 2023, hoạt động thương mại, dịch vụ đã và đang phục hồi mạnh mẽ và ổn định, có nhiều chính sách kích cầu, tăng cường quảng bá, nâng cao chất lượng dịch vụ, hoạt động du lịch, với nhiều chuỗi sự kiện văn hóa, du lịch hấp dẫn nên lượng khách du lịch tăng cao kéo theo các dịch vụ tăng mạnh. Lượng khách du lịch trong dịp Tết Nguyên Đán và Kỳ nghỉ lễ 30/4-1/5, 2/9 của Lào Cai đều xếp top đầu cả nước. Nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng văn hóa bản sắc dân tộc được đưa vào khai thác; các hoạt động sự kiện tiêu biểu được tổ chức[1]Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội ước đạt 35.657 tỷ đồng, bằng 71,3% MTĐA. Hoạt động xuất nhập khẩu năm 2023 vẫn còn gặp nhiều khó khăn, mặc dù phía Trung Quốc khôi phục toàn diện hoạt động thông quan, tuy nhiên lưu lượng hàng hóa vẫn thấp hơn rất nhiều so với thời điểm trước khi diễn ra dịch Covid-19. Tổng giá trị XNK hàng hóa qua địa bàn tỉnhướcđạt2.159 triệu USD, bằng 21,9% MTĐA.Tỷ lệ thanh toán xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ qua ngân hàng chiếm trên tổng giá trị thanh toán XNK trên địa bàn tỉnh đạt 42%, bằng 70% MTĐA. Tỷ lệ dịch vụ khác (tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu, quá cảnh...) ước đạt 30,7% giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới tỉnh, bằng 61,4% MTĐA.

Trong tổng số 07 mục tiêu Đề án, có 01 chỉ tiêu đạt 100% và vượt MTĐA, 03 chỉ tiêu đạt trên 70% so với MTĐA, 01 chỉ tiêu hoàn thành > 50%; 01 chỉ tiêu đạt dưới 50% so với MTĐA (chỉ tiêu về tổng giá trị XNK hàng hóa qua địa bàn tỉnh); 01 chỉ tiêu chưa đánh giá.

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 11.362 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 3.495 tỷ đồng, đạt 16,6% tổng nhu cầu vốn.

2.2. Tồn tại, hạn chế

- Chưa có Trung tâm logistics quy mô lớn. Hạ tầng logistics tại Lào Cai chưa có khả năng cung cấp đầy đủ, trọn gói; chi phí dịch vụ cao.

- Giá trị xuất, nhập khẩu qua các cửa khẩu giảm so với cùng kỳ năm 2022 và đạt rất thấp so với kế hoạch giao năm 2023. Cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu chủ yếu vẫn là mặt hàng nông sản, chưa thu hút được các mặt hàng có giá trị cao, giá trị loại hình tạm nhập, tái xuất, quá cảnh... qua cửa khẩu quốc tế Lào Cai còn thấp chủ yếu diễn ra tại cửa khẩu đường bộ số II Kim Thành và cửa khẩu Ga quốc tế đường sắt.

- Việc triển khai quy hoạch để hình thành các khu công nghiệp còn chậm, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu của các nhà đầu tư.

- Việc kêu gọi đầu tư cặp chợ biên giới Kim Thành chưa kêu gọi được nhà đầu tư tham gia do định giá khởi điểm quá cao.

 3. Đề án 03: Đề án phát triển văn hoá, du lịch tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2020 - 2025

3.1. Kết quả đạt được

- Hoạt động du lịch tiếp tục có nhiều khởi sắc, hồi phục mạnh mẽ trong  năm 2023, cùng với nhiều hoạt động, sự kiện văn hóa du lịch hấp dẫn được tổ chức tiêu biểu như Lễ hội hoa hồng Sa Pa, Ngày văn hóa Hàn Quốc tại Sa Pa; Sa Pa – Thổ cẩm và Hoa; lễ hội đua ngựa Bắc Hà... Đặc biệt là tổ chức thành công Chương trình 120 năm Du lịch Sa Pa đã khẳng định được vị thế của du lịch Sa Pa với bề dày 120 năm phát triển, vị thế của Khu du lịch Quốc gia – trọng điểm du lịch của Việt Nam qua đó tạo sức hút của Lào Cai đối với du khách. Bên cạnh đó hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch được tăng cường đẩy mạnh[2], trong đó đã tổ chức hội nghị xúc tiến du lịch trực tuyến với Ấn Độ. Với các giải pháp đồng bộ đã thu hút lượng khách lớn đến với Lào Cai và trở thành một trong những điểm đến hàng đầu của Du lịch Việt Nam. Cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển du lịch được tỉnh quan tâm chỉ đạo tháo gỡ, triển khai hiệu quả, đi vào cuộc sống, tạo ra động lực thúc đẩy văn hóa du lịch phát triển. Cả năm 2023, lượng khách du lịch ước đạt 7 triệu lượt người, bằng 70% MTĐA; tổng thu từ khách du lịch ước đạt 22.500 tỷ, bằng 50,3% MTĐA; tổng số cơ sở lưu trú tính trên địa bàn tỉnh 1.545 cơ sở, đạt 110,4% MTĐA, với 2.945 buồng phòng đạt chuẩn từ 3-5 sao trở lên, bằng 30% MTĐA...

- Lĩnh vực văn hóa ngày càng nhận được sự quan tâm của cả hệ thống chính trị. Ngoài các chương trình, chiến lược phát triển văn hóa đã được ban hành, hiện nay Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang tham mưu cho Chính phủ xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia về chấn hưng văn hóa. Việc đầu tư ngân sách đã được quan tâm, công tác lồng ghép nhiều chương trình, dự án để tăng nguồn lực đầu tư thực hiện Đề án đã được triển khai thực hiện như lồng ghép từ nguồn vốn các Chương trình mục tiêu quốc gia. Thường xuyên kiểm tra, rà soát các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh về văn hóa, kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế những quy định không còn phù hợp.Tỷ lệ hộ gia đình văn hóa đạt 85%, bằng 98,8% MTĐA; Tỷ lệ thôn, làng, tổ dân phố văn hóa đạt 79,01%, bằng 98,8% MTĐA; Lập hồ sơ khoa học và đề nghị công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh, bằng 120% MTĐA; Lập hồ sơ công nhận di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, bằng 60% MTĐA; Bảo tồn lễ hội, phong tục tập quán, bằng 66,7% MTĐA...

Trong tổng số 16 mục tiêu đề án có 05 chỉ tiêu đạt 100% và vượt MTĐA; 04 chỉ tiêu đạt trên 70% so với MTĐA; 05 chỉ tiêu đạt trên 50% MTĐA và 02 chỉ tiêu đạt dưới 50% so với MTĐA).

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 11.986 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 633 tỷ đồng, đạt 5,3% tổng nhu cầu vốn.

3.2. Tồn tại, hạn chế

- Hệ thống thiết chế văn hóa ở cơ sở còn chưa được đầu tư đồng bộ trang thiết bị phục vụ hoạt động, nguồn vốn để thực hiện việc đầu tư trang thiết bị còn phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn hỗ trợ từ các Chương trình mục tiêu quốc gia. Các nguồn hỗ trợ từ các Chương trình mục tiêu quốc gia gặp nhiều khó khăn trong việc giải ngân, nguồn lực còn ít so với nhu cầu thực tế. Các nhiệm vụ phát triển du lịch chủ yếu huy động nguồn lực đầu tư ngoài ngân sách khá lớn, trong điều kiện phục hồi kinh tế như hiện nay, các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn. Nhiều dự án đầu tư phát triển văn hóa còn chậm triển khai, nhất là các dự án ở các lĩnh vực vui chơi giải trí, phát triển các loại hình văn hóa ít phổ biến và các dịch vụ mua sắm, dịch vụ bổ sung; Sự phối hợp, liên kết giữa các vùng, địa phương và các tổ chức, cá nhân kinh doanh các sản phẩm văn hóa để hình thành, phát triển sản phẩm du lịch chưa đạt hiệu quả mong muốn; vai trò của cộng đồng trong phát triển văn hóa-du lịch chưa được phát huy; Chưa xây dựng, ban hành được nhiều chính sách về văn hóa để làm cơ sở triển khai tổ chức thực hiện. Các nội dung về chuyển đổi số lĩnh vực văn hóa còn chậm thực hiện.

- Nhân lực du lịch chưa đáp ứng về số lượng 0,7 lao động trực tiếp/buồng (chưa đạt mức trung bình cả nước là 1,5 lao động trực tiếp/buồng), cơ cấu và chất lượng, đặc biệt là thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn cao, được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng, kỹ thuật nghiệp vụ, chuyên môn, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử, tinh thần và thái độ phục vụ và khả năng ngoại ngữ.

- Trong thời gian vừa qua, các hoạt động quảng bá, xúc tiến đối với các thị trường quốc tế chưa được chú trọng (chủ yếu bằng hình thức trực tuyến, thông qua hệ thống internet, chưa có các hoạt động xúc tiến trực tiếp); chưa có hoạt động liên kết với các hãng truyền thông quốc tế để quảng bá do thiếu kinh phí và cơ chế tài chính chi trả cho các hoạt động này.

4. Đề án 04: Đề án phát triển, nâng cao chất lượng các đô thị và giao thông trọng điểm trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2020 2025

4.1. Kết quả đạt được

Đến nay, rất nhiều công việc đã được triển khai trên cả 3 nhóm: phát triển đô thị; nâng cao chất lượng đô thị; xây dựng công trình giao thông trọng điểm.Một số kết quả đạt được nổi bật như: Phê duyệt Quy hoạch tỉnh, Quy hoạch chung xây dựng Khu du lịch Quốc gia Sa Pa; Phê duyệt chủ trương đầu tư Cảng hàng không Sa Pa; Đường sắt khổ lồng giữa ga Lào Cai (Việt Nam) và ga Hà Khẩu Bắc (Trung Quốc) và đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng được Lãnh đạo Đảng và Chính phủ hai nước quan tâm thúc đẩy; Nâng cấp các tuyến quốc lộ, đường tỉnh trọng yếu… Cụ thể:

- Về phát triển, quản lý đô thị: Có 03 chỉ tiêu tiêu đều hoàn thành kế hoạch năm (gồm: Tỷ lệ đô thị hoá; Dân số toàn đô thị; Định hướng phát triển đô thị) và lần lượt đạt 88,9% MTĐH, 75,1% MTĐH và 70% MTĐH.

- Về chất lượng đô thị: Có 06 chỉ tiêu trong đó: Có 6/6 chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch năm (Tỷ lệ phục vụ vận tải hành khách công cộng; Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt của đô thị, khu công nghiệp được thu gom và xử lý; Tỷ lệ nước thải đô thị được xử lý đạt tiêu chuẩn kỹ thuật; Tỷ lệ tuyến phố văn minh đô thị trên tổng số tuyến phố, Số không gian công cộng được đầu tư mới).

- Về giao thông trọng điểm: có 09 chỉ tiêu, trong đó: Có 04 chỉ tiêu cơ bản hoàn thành kế hoạch năm (Nâng cấp, sửa chữa đường Quốc lộ, tỉnh lộ theo kế hoạch năm; Xây dựng hoàn thành nút giao Phố Lu; Hoàn thành xây dựng cầu Làng Giàng, triển khai xây dựng cầu Phú Thịnh, Xây dựng hoàn thành nút giao cao tốc Nội Bài – Lào Cai với tỉnh lộ 152, còn có một số nhiệm vụ triển khai chưa đạt tiến độ (xây dựng cầu biên giới Bát Xát). Có 05 chỉ tiêu không đạt kế hoạch năm (Xây dựng hoàn thành sân bay Sa Pa với công suất 1,5 triệu khách/năm; Xây dựng hoàn thành các tuyến đường sử dụng vốn vay WB; Khai thác tuyến vận tải đường sông Hồng; Hoàn thành bước Quy hoạch tuyến đường sắt mới tốc độ cao Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Xây dựng đường sắt khổ Lồng nối Ga Lào Cai đến Ga Hà Khẩu Bắc).

Trong tổng số 3 nhóm chỉ tiêu nêu trên, có 02/03 nhóm chỉ tiêu đạt trên 70% so với MTĐA (Về phát triển, quản lý đô thị, Về chất lượng đô thị); 01/03 chỉ tiêu đạt dưới 50% so với MTĐA (Về giao thông trọng điểm).

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 131.011 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 37.329 tỷ đồng, đạt 28,49% tổng nhu cầu vốn.

4.2. Tồn tại, hạn chế

-Tiến độ lập, phê duyệt một số đồ án quy hoạch, việc triển khai công trình giao thông trọng điểm còn chậm, chưa đáp ứng yêu cầu.

- Tiến độ triển khai nhiều dự án khu đô thị, khu nhà ở thương mại, nhà ở xã hội còn tương đối chậm. Nhận thức về phát triển đô thị vẫn chưa thực sự được quan tâm đúng với tầm quan trọng của nhiệm vụ, khả năng động lực tạo ra được khi đô thị phát triển. Kinh phí nâng cấp chất lượng đô thị sử dụng chưa hiệu quả, vẫn còn tình trạng úng ngập trong đô thị. Hệ thống thu gom xử lý nước thải đô thị chưa được đầu tư đồng bộ (hiện mới chỉ có thị xã Sa Pa, thành phố Lào Cai có hệ thống xử lý nước thải đô thị). Hạ tầng các bãi xử lý rác thải sinh hoạt hợp vệ sinh chưa đáp ứng được yêu cầu; không gian công cộng theo quy hoạch chưa được quan tâm đầu tư nhiều; vận tải công cộng chưa phát triển.

- Đối với các đường trục liên xã, đường kết nối trung tâm xã với đô thị: nhận thức của một bộ phận nhân dân, cán bộ xã còn hạn chế, chưa có tính phối hợp cao trong công tác giải phóng mặt bằng (chưa đồng thuận hiến đất, sợ bị ảnh hưởng nhiều đến hoa màu…) dẫn đến tiến độ đầu tư xây dựng tuyến đường giao thông còn chậm hoặc bị cản trở.

5. Đề án 05: Đề án huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2020 – 2025

5.1. Kết quả đạt được

Lũy kế tổng vốn huy động đầu tư toàn xã hội đến hết năm 2023 ước đạt  138.050 tỷ đồng,bằng 52,1% MTĐA. Riêng đối với, kế hoạch đầu tư công thực tế năm 2023 giao 5.551tỷ đồng. Ước giá trị giải ngân đến hết năm ngân sách đạt 95% KH (nằm trong nhóm các tỉnh thành có tỷ lệ giải ngân cao của cả nước).

Trong tổng số 1 mục tiêu đề án có 1 chỉ tiêu đạt trên 50% so với MTĐA.

5.2. Tồn tại, hạn chế

-Cơ sở hạ tầng tuy được cải thiện nhưng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, đặc biệt là hạ tầng khu kinh tế cửa khẩu, hạ tầng du lịch, hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, cơ sở hạ tầng nông thôn còn thiếu và yếu. Dẫn tới hạn chế việc khai thác thế mạnh tiềm năng của tỉnh, chưa hấp dẫn để thu hút các nguồn vốn đầu tư (đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách). Trong đó một số hạ tầng kết cấu giao thông tuy đã được triển khai nhưng đã có khó khăn, chưa thể hoàn thành (Cảng hàng không, cao tốc Nội bài - Lào Cai giai đoạn 2, Cầu Bản Vược - Bá Sái, Tuyến đường sắt khổ 1.435 mm…) làm tăng chi phí, giảm sức cạnh tranh.

- Các hình thức đầu tư như PPP, BOT, BT… còn ít. Việc thu hút các nguồn vốn nhằm xã hội hóa các ngành y tế, văn hóa, giáo dục, thể dục - thể thao còn chậm và chưa thu hút được nhiều.

- Do ảnh hưởng từ các cuộc xung đột diễn ra trên thế giới nên giá của các loại vật liệu xây dựng trong giai đoạn 2021-2023 tăng đột biến đặc biệt là giá xăng dầu, sắt, thép... tăng mạnh. Do đó, nhiều dự án phải thực hiện điều chỉnh theo hướng tăng tổng mức đầu tư hoặc thay đổi giải pháp thiết kế hoặc giảm quy mô đầu tư để đảm bảo nguồn lực triển khai.

-Thu hút FDI gặp khó khăn do quỹ đất để xúc tiến đầu tư hạn chế, nhất là đất tại các KCN, KKT.

- Chưa khai thác hết tiềm năng nguồn vốn khu vực ngoài nhà nước từ khu vực tư nhân và dân cư (vốn nhàn rỗi của doanh nghiệp, tiền tiết kiệm của dân cư,...). Do tình hình biến động của thế giới và ảnh hưởng của dịch bệnh, đặc biệt sự biến động của giá cả xăng dầu.... dẫn đến nhiều doanh nghiệp lâm vào khó khăn, thiếu vốn đầu tư, tình hình sản xuất, kinh doanh đình trệ, số lượng doanh nghiệp dừng hoạt động, giải thể tiếp tục có chiều hướng tăng cao.

- Cải cách thủ tục hành chính (đặc biệt về đất đai, đầu tư xây dựng cơ bản) tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn rườm rà, nhiều vướng mắc, gây khó khăn cho doanh nghiệp, làm giảm sức hút, lợi thế cạnh tranh của tỉnh.

6. Đề án 06: Đề án đổi mới, phát triển, nâng cao chất lượng Giáo dục toàn diện - Nguồn nhân lực - Khoa học công nghệ tỉnh Lào Cai giai đoạn 2020-2025

6.1. Kết quả đạt được

- Lĩnh vực giáo dục: Cơ bản hoàn chỉnh mạng lưới trường, lớp học và quy mô giáo dục hợp lý đạt 99,3% MTĐA. Phát triển hệ thống trường PTDT nội trú, trường PTDT bán trú đạt 99% MTĐA. Tỷ lệ huy động học sinh ra lớp trong đó: huy động trẻ 0-2 tuổi đạt 91% MTĐA; huy động trẻ 3-14 tuổi đạt 100% MTĐA; huy động học sinh tốt nghiệp THCS học lên THPT, học nghề đạt 105% MTĐA. Duy trì, giữ vững chỉ tiêu phổ cập giáo dục, xóa mù chữ. Tích cực triển khai xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia gắn với xây dựng Nông thôn mới.

- Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp - phát triển nguồn nhân lực: Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã tuyển sinh, đào tạo 35.555 người, đạt 66,5% MTĐA, trong đó: Trình độ cao đẳng, trung cấp: 11.400 người; sơ cấp và dưới 3 tháng: 27.155 người. Nâng tỷ lệ lao động qua đào đạo đạt 67,7%, bằng 97,1% MTĐA.

- Lĩnh vực khoa học và công nghệ: Năm 2023, đã thực hiện 20/22 đề tài, dự án (12 đề tài, dự án cấp tỉnh và 08 dự án thuộc chính sách khuyến khích ứng dụng tiến bộ KH&CN). Tính đến nay, đã thực hiện 78/105 đề tài, dự án (trong đó: có 53 đề tài cấp tỉnh; 05 dự án thuộc Chương trình NTMN; 20 dự án thuộc chương trình Chính sách khuyến khích ứng dụng KH&CN), đạt 74,3% MTĐA.

Trong tổng số 16 mục tiêu đề án có 05 chỉ tiêu đạt 100% và vượt MTĐA; có 07 chỉ tiêu đạt trên 70% so với MTĐA; 01 chỉ tiêu đạt trên 50% MTĐA; 02 chỉ tiêu đạt dưới 50% so với MTĐA; 01 chỉ tiêu chưa triển khai thực hiện (gồm: Xây dựng Sàn giao dịch điện tử về công nghệ và thiết bị; Đầu tư và xây dựng trại thực nghiệm vùng cao tại Sa Pa).

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 2.916 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 1.979 tỷ đồng, đạt 67,8% tổng nhu cầu vốn.

6.2. Tồn tại, hạn chế

- Công tác chỉ đạo, quản lý ở một số lĩnh vực, một số cơ sở giáo dục còn chậm đổi mới chưa đáp ứng được so với yêu cầu; công tác dự báo, dự đoán tình hình; kỹ năng xử lý, giải quyết một số tình huống còn hạn chế; chưa có nhiều biện pháp hiệu quả tạo động lực cho đội ngũ.

- Còn thiếu giáo viên so với định mức ở tất cả các cấp học, bậc học, nhất là giáo viên mầm non, giáo viên chuyên biệt (Tiếng Anh, Tin học, Âm nhạc), nhân viên y tế, bảo vệ, cấp dưỡng, thư viện, thiết bị. Công tác tuyển dụng giáo viên còn gặp nhiều khó khăn, do thiếu nguồn tuyển.

- Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, nhất là ở vùng cao tuy được quan tâm đầu tư, nhưng còn nhiều khó khăn, đặc biệt là phòng học bộ môn, thiết bị dạy học tối thiểu thực hiện chương trình GDPT 2018, hạ tầng CNTT khó khăn, kinh phí thực hiện chuyển đổi số ngành giáo dục hạn hẹp. Một số trường học ở phường trung tâm thành phố có quy mô số lớp, số học sinh/lớp vượt nhiều so với Điều lệ trường học. Công tác xã hội hóa giáo dục về tăng cường cơ sở vật chất trường, lớp học ở vùng cao còn hạn chế.

- Một số hướng dẫn triển khai trong công tác đào tạo nghề chưa cụ thể (về đối tượng hưởng chính sách trong CTMTQG giảm nghèo,...) vì vậy các cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn vướng trong quá trình tuyển sinh, thực hiện.

- Do ảnh hưởng của dịch COVID-19 nền kinh tế chưa phục hồi hoàn toàn, các doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh chậm. Do đó nhu cầu tuyển dụng lao động của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa nhiều, chủ yếu việc làm trong tỉnh là việc làm ngắn hạn, thời vụ.

- Công tác xã hội hoá các hoạt động KH&CN còn hạn chế, việc thực hiện đa dạng nguồn vốn cho hoạt động KH&CN còn nhiều khó khăn. Nhiệm vụ xây dựng lộ trình đổi mới công nghệ là nhiệm vụ mới và khó trong việc tổ chức triển khai. Việc triển khai nhiệm vụ "Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo" còn gặp nhiều khó khăn.

7. Đề án 07: Đề án bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân và công tác dân số tỉnh Lào Cai trong tình hình mới, giai đoạn 2020 2025

7.1. Kết quả đạt được

Hệ thống y tế hoạt động ổn định, cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư; đội ngũ cán bộ được đào tạo nâng cao, cập nhật kiến thức, cụ thể:

- Tổng số giường bệnh toàn tỉnh hiện có: 3.500, đạt 45GB/vạn dân, bằng 100% MTĐA; tỷ lệ bác sỹ/vạn dân: 13,5BS/vạn dân, bằng 90% MTĐA; tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi thể thấp còi: 25,9%, đạt MTĐA; tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi SDD thể nhẹ cân: 14,4% còn kém 1,4% MTĐA.

-Phát triển y tế dự phòng, nâng cao năng lực phòng, chống dịch bệnh gắn với đổi mới y tế cơ sở:Thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch COVID-19 theo các chỉ đạo, hướng dẫn của Chính phủ, Bộ Y tế; quán triệt việc đeo khẩu trang, khử khuẩn đúng qui định. Củng cố, phát triển y tế dự phòng; đổi mới mạnh mẽ cơ chế và phương thức hoạt động mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cấp xã.Khuyến khích phát triển cơ sở dự phòng ngoài công lập. Đồng thời, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Tỷ lệ trạm y tế xã, phường, thị trấn triển khai dự phòng, quản lý điều trị bệnh không lây nhiễm đạt 88,2%, bằng 92,8% MTĐT; Tỷ lệ xã duy trì đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế đạt 85,5%, bằng 85,5% MTĐA. 

- Đẩy mạnh phát triển lĩnh vực dược: Đấu thầu, cung ứng thuốc đảm bảo theo quy định. Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra việc lưu hành thuốc, kịp thời phát hiện, xử lý thuốc giả, thuốc kém chất lượng, thuốc không rõ nguồn gốc trên thị trường. Giải quyết các thủ tục hành chính lĩnh vực dược, mỹ phẩm đảm bảo đúng thời gian quy định.

- Tăng cường công tác bảo đảm an toàn thực phẩm: Nâng cao năng lực trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm. Tăng cường truyền thông về an toàn thực phẩm. Tăng cường kiểm tra, giám sát phát hiện mối nguy về an toàn thực phẩm. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong y tế.

Trong tổng số 20 mục tiêu đề án có 08 chỉ tiêu đạt 100% và vượt MTĐA, 11 chỉ tiêu đạt trên 70% so với MTĐA, 01 chỉ tiêu đạt trên 50% so với MTĐA.

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 3.327 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 1.676,6 tỷ đồng, đạt 50,4% tổng nhu cầu vốn.

7.2. Tồn tại, hạn chế:

- Công tác mua sắm trang thiết bị, thuốc, vật tư y tế còn chậm, chưa đạt theo theo kế hoạch; có những thời điểm thiếu thuốc cục bộ, ảnh hưởng đến hoạt động điều trị. Đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên sâu, chuyên ngành tại tuyến y tế cơ sở còn mỏng, thiếu, đặc biệt là đội ngũ bác sỹ tuyến xã.

- Một số chỉ tiêu còn chưa đạt theo tiến độ, thấp so bình quân toàn quốc:  Tỷ lệ bao phủ BHYT: 92% (chỉ tiêu: 98%); Tuổi thọ trung bình năm 2022: 70 (toàn quốc 73); SDD trẻ <5 tuổi thể thấp còi: 25,9% (toàn quốc 19,2%).

- Công tác xây dựng xã đạt Tiêu chí Y tế, Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới còn khó khăn, nhất là tiêu chí NTM nâng cao (chỉ tiêu tỷ lệ người dân tham gia và sử dụng ứng dụng KCB từ xa≥40%), do một số chỉ tiêu thuộc về ứng dụng CNTT, rất khó triển khai tại cộng đồng.

- Việc triển khai các dịch vụ chuyên môn theo phân tuyến kỹ thuật của Bộ y tế tại tuyến huyện đạt thấp, mới chỉ đạt 32% theo quy định (do nhiều yếu tố: Cơ sở hạ tầng, thiếu TTB, thiếu cán bộ có chuyên môn kỹ thuật cao...).

- Chất lượng công tác dân số chưa cao, việc triển thai thực hiện chỉ tiêu sàng lọc trước sinh và sơ sinh có khó khăn, nhất là những tháng đầu năm; sinh con thứ 3 trở lên, trẻ sinh từ bà mẹ dưới 20 tuổi còn cao.

- Ứng dụng CNTT, chuyển đổi số còn chậm, lúng túng, kết quả đạt thấp, cụ thể như trong việc triển khai phát triển dữ liệu, kết nối liên thông dữ liệu.

8. Đề án 8: Đề án phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2020 2025

8.1. Kết quả đạt được

- Chuyển đổi số, đô thị thông minh, thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số:Hạ tầng viễn thông, internet phát triển rộng khắp, phủ sóng di động đến 100% trung tâm các xã, 99% đến trung tâm thôn, tổ dân phố, 85,6% thôn, tổ dân phố và 57% tổng số hộ có kết nối Internet cáp quang. Triển khai 05 trạm 5G, 15 điểm phát sóng Wifi công cộng tại các khu vực tập trung dân cư, khu du lịch của thị xã Sa Pa và thành phố Lào Cai. Triển khai và đưa vào sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng đến cấp xã.Xây dựng, kết nối các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu; kết nối CSDL quốc gia về dân cư với Cổng dịch vụ hành chính công của tỉnh. Cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, tích hợp 75,7% dịch vụ công lên Cổng dịch vụ công Quốc gia, đứng thứ 13/63 tỉnh, thành phố. Duy trì, vận hành, sử dụng tốt các hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành, gửi nhận văn bản điện tử, cung cấp thông tin trên Cổng thông tin điện tử phục vụ người dân, doanh nghiệp. Thực hiện các giải pháp nâng cao an toàn thông tin mạng.

- Phát triển báo chí, truyền thông: Tập trung thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền, thông tin đối ngoại, tiếp tục đổi mới phương thức sản xuất chương trình phát thanh truyền hình, quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí, định hướng các cơ quan báo chí truyền thông đảm bảo đúng định hướng, tuyên truyền toàn diện, đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở; theo dõi, nắm bắt kịp thời thông tin trên báo chí, trên mạng xã hội.

Trong tổng số 19 mục tiêu đề án có 09 chỉ tiêu đạt 100% và vượt MTĐA, 06 chỉ tiêu đạt trên 70% so với MTĐA, 02 chỉ tiêu đạt trên 50% so với MTĐA, 02 chỉ tiêu đạt dưới 50% so với MTĐA.

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 1.635 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 213,4 tỷ đồng, đạt 13,1% tổng nhu cầu vốn.

8.2. Tồn tại, hạn chế: Đến nay, toàn tỉnh còn 14 thôn chưa có hạ tầng internet băng rộng di động, 225 thôn chưa có hạ tầng internet băng rộng cáp quang, đây là những thôn vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn. Việc triển khai các nền tảng số, xây dựng dữ liệu dùng chung còn hạn chế; chưa tạo lập được kho dữ liệu, hệ thống tổng hợp, phân tích dữ liệu phục vụ chỉ đạo, điều hành. Thiếu nhân lực phụ trách an toàn thông tin, chuyên gia về chuyển đổi số. Nhân lực có kỹ năng số trong xã hội, đặc biệt với địa bàn vùng cao, vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế.

9. Đề án 09: Đề án tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2020 2025

9.1.Kết quả đạt được

- Về tài nguyên đất: Chỉ tiêu sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt đạt 100% MTĐA. Công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính đối với các loại đất sản xuất nông nghiệp, đất ở và đất phi nông nghiệp đã đo đạc hoàn thành 95% diện tích cần đo vẽ, đạt 100% MTĐA.

- Về tài nguyên khoáng sản: Cấp quyền khai thác khoáng sản chế biến và chế biến sâu thông qua hình thức đấu giá khoáng sản; thungân sách từ khai thác, chế biến, chế biến sâu sử dụng nguyên liệu là khoáng sản đến năm 2023 ước đạt  5.853 tỷ đồng, bằng 50,9% MTĐA.

- Về tài nguyên nước: Về việc triển khai thực hiện cắm mốc bảo vệ hành lang nguồn nước, các nguồn nước phải cắm mốc bảo vệ hành lang nguồn nước, đến nay các huyện thành phố chưa triển khai cắm mốc, hiện tại đang xây dựng phương án cắm mốc. Thu từ tài nguyên nước cho ngân sách ước đạt 1.517 tỷ đồng, bằng 60,7% MTĐA.

- Về bảo vệ môi trường, quản lý đa dạng sinh học: Đối với việc quản lý chất thải rắn, công tác phân loại, thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại các khu vực đô thị tiếp tục được triển khai thực hiện theo quy định Luật Bảo vệ môi trường 2020. Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 96%, bằng 95% MTĐA; được xử lý triệt để tại các bãi chôn lấp hợp vệ sinh và nhà máy xử lý đạt 75%, bằng 75% MTĐA. Đối với việc quản lý nước thải, cơ bản 100% nước thải sinh hoạt từ các khu đô thị loại IV trở lên được thu gom xử lý bằng hệ thống xử lý nước thải của các hộ gia đình và các hộ kinh doanh (nhà hàng, khách sạn, khu đô thị,…). Duy trì, vận hành nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt tập trung. Các khu, cụm công nghiệp mới hình thành được đầu tư đồng bộ hệ thống xử lý chất thải tập trung trước khi đi vào vận hành đạt 100% MTĐA.

- Về bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu: Các mục tiêu về bảo tồn đa dạng sinh học được đưa vào lồng ghép trong mục tiêu về bảo vệ môi trường, bảo vệ rừng. Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Lào Cai thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 cũng đưa ra mục tiêu về tỷ lệ che phủ rừng, bảo tồn thiên nhiên đa dạng sinh học và đề xuất cụ thể khu vực bảo vệ nghiêm ngặt là các khu vực vườn Quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên.

 Trong tổng số 20 mục tiêu đề án có 09 chỉ tiêu đạt 100% và vượt MTĐA, 03 chỉ tiêu đạt trên 70% so với MTĐA, 05 chỉ tiêu đạt trên 50% so với MTĐA, 02 chỉ tiêu đạt dưới 50% so với MTĐA, 01 chỉ tiêu chưa triển khai thực hiện (Các khu đô thị đạt khu đô thị xanh).

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 965 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 138,3 tỷ đồng, đạt 14,3% tổng nhu cầu vốn.

9.2. Tồn tại, hạn chế

- Việc bố trí kinh phí cho lĩnh vực bảo vệ môi trường còn hạn chế, nhất là việc đầu tư, phân bổ kinh phí cho các dự án thành phần của đề án.

- Về cơ sở hạ tầng: Chưa hoàn thiện hạ tầng về bảo vệ môi trường theo quy định Luật bảo vệ môi trường 2020 (hạ tầng KCN; hệ thống thu gom xử lý nước thải tại các khu vực đô thị; Hạ tầng các bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt hợp vệ sinh chưa đáp ứng được yêu cầu..).

- Về bảo vệ môi trường tại khu công nghiệp, đặc biệt là khu công nghiệp Tằng Loỏng còn tiểm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường cao, nhất là các bãi thải gyps của các nhà máy sản xuất phân bón DAP, Đức Giang. Quá trình hoạt động một số cơ sở vẫn còn để xảy ra sự cố làm ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân và môi trường như sự cố vỡ cống D2000 hồ thải quặng đuôi (là cống thoát nước mặt, nằm trong hồ thải tuyển), dẫn đến một lượng lớn nước và bùn trong hồ thải quặng đuôi ra ngoài môi trường làm ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của các hộ dân trong khu vực và làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.

- Về công tác bảo vệ môi trường nông thôn: bảo vệ môi trường nông thôn chưa được bền vững; xuất hiện tình trạng kích điện, sơ chế, mua bán giun đất.

10. Đề án 10: Đề án giảm nghèo bền vững tỉnh Lào Cai giai đoạn 2020-2025

10.1. Kết quả đạt được

Công tác giảm nghèo bền vững đã đạt được những kết quả khả quan, theo kết quả sơ bộ điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2023, giảm 4,43%, vượt 0,43% so với KH của tỉnh và Trung ương giao, bình quân 03 năm giảm 5,03%, đạt MTĐA và vượt 1,03% so với mức giảm bình quân 4%/năm; trong đó giảm tỷ lệ nghèo của các huyện nghèo 7,69%, vượt 1,69% MTĐA; Số hộ cận nghèo giảm 7.558 hộ, đạt 75,58% KH 05 năm và đạt MTĐH hàng năm giảm >=2.0000 hộ/năm; Thành phố Lào Cai cơ bản không còn hộ nghèo (0,73%<2%), đạt 50% MTĐA 02 đơn vị cấp huyện cơ bản không còn hộ nghèo. Thực hiện đảm bảo, kịp thời các chính sách của nhà nước hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Đẩy mạnh triển khai các dự án thành phần Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2022 - 2025; Nghị quyết số 20-NQ/TU ngày 24/5/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về giảm nghèo bền vững đối với các xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 40% trở lên đến hết năm 2020, tầm nhìn đến 2025, có xét đến năm 2030; Quyết định số 148/QĐ-TU ngày 02/3/2022 của Tỉnh ủy về phân công ủy viên BCH Đảng bộ tỉnh theo dõi, nắm bắt tình hình tổ chức cơ sở đảng và giúp xã có tỷ lệ hộ nghèo cao của tỉnh; Kế hoạch số 239/KH-UBND ngày 19/5/2022 của UBND tỉnh phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2022-2025 đối với 10 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao tỉnh Lào Cai; các đề án trọng tâm của Tỉnh ủy, giai đoạn 2020-2025 nhằm góp phần giảm nghèo bền vững. Đến nay, tỷ lệ giảm nghèo của 37 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao là giảm 10,34%, tỷ lệ hộ nghèo bình quân của 37 xã còn 41,87%;tỷ lệ giảm nghèo của 10 xã nghèo nhất là giảm 10,41%, tỷ lệ hộ nghèo bình quân của 10 xã còn 50,54%.

Trong tổng số 06 mục tiêu đề án có 02 chỉ tiêu đạt 100% và vượt MTĐA, 02 chỉ tiêu đạt trên 70% so với MTĐA, 02 chỉ tiêu đạt dưới 50% so với MTĐA.

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 491 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 638,7 tỷ đồng, đạt 130,1% tổng nhu cầu vốn.

10.2. Tồn tại, hạn chế

- Đối với nguồn vốn sự nghiệp của Chương trình MTQG giảm nghèo bền vữn mới được giao năm 2023, chưa thông báo mức vốn cả giai đoạn 2021-2025. Do vậy, gặp khó khăn trong việc xây dựng các danh mục nội dung dự án sử dụng vốn sự nghiệp thực hiện chương trình, nhất là việc lựa chọn, xác định quy mô các dự án về hỗ trợ phát triển sản xuất thực chuỗi liên kết cần thực hiện trong nhiều năm.

- Đối với Tiểu dự án 1 thuộc Dự án 4: Phát triển giáo dục nghề nghiệp vùng nghèo, vùng khó khăn của Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững: (1) Đến nay, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội chưa có hướng dẫn về xác định đối tượng ”người lao động có thu nhập thấp” trong Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025; (2) Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Giáo dục nghề nghiệp và khoản 1 Điều 44 Luật Giáo dục thì các Trung tâm DNNN–GDTX không thuộc đối tượng thụ hưởng thuộc 03 chương trình MTQG giai đoạn 2021-2025, do vậy việc triển khai thực hiện dự án phát triển giáo dục nghề nghiệp gặp nhiều khó khăn, chậm tiến độ; (3) Việc triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ kết nối việc làm thành công gặp khó khăn do tại khoản 2 Điều 28 và khoản 1 Điều 72 Thông tư số 55/2023/TT-BTC ngày 15/8/2023 của Bộ Tài chính quy định chứng từ thanh quyết toán cho nội dung này phải có bản sao hợp đồng lao động làm minh chứng, tuy nhiên hiện nay hầu hết các doanh nghiệp không cho phép người lao động cung cấp hoặc phô tô hợp đồng ký kết.

- Tiến độ thực hiện, giải ngân các dự án, tiểu dự án thành phần các Chương trình MTQG còn chậm, nhất là nguồn vốn sự nghiệp

11. Đề án 11: Đề án mở rộng đối ngoại, chủ động hội nhập và hợp tác quốc tế giai đoạn 2020 2025

11.1.Kết quả đạt được

- Đối với việc triển khai Đề án Khu hợp tác biên giới: Trong thời gian qua, tỉnh đã tích cực phối hợp với Vuk thị trường Châu Á - Châu Phi, Bộ Công thương thúc đẩy xây dựng Phương án triển khai thí điểm xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới Lào Cai, Việt Nam – Vân Nam, Trung Quốc để trình Bộ Công Thương báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

- Đối với việc xây dựng cầu Bản Vược - Bá Sái: Hiện nay, Bộ Giao thông vận tải Việt Nam đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp nhận ký kết chính thức. Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc đang tiếp tục hoàn thành các thủ tục nội bộ trong nước để tiến tới ký kết Hiệp định và Nghị định thư nhân dịp chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao Trung Quốc tới Việt Nam.

- Đối với dự án kết nối tuyến đường sắt khổ lồng 1435mm/1000mm giữa ga Lào Cai (Việt Nam) và ga Hà Khẩu Bắc (Trung Quốc): Cục Đường sắt Việt Nam đã có Công thư gửi Cục Đường sắt Quốc gia Trung Quốc kèm theo phương án đề xuất của phía Việt Nam và đề xuất hai bên sẽ đàm phán, thỏa thuận bằng hình thức họp trực tuyến hoặc hội đàm trên biên giới hai nước tại khu vực biên giới Lào Cai – Hà Khẩu.

- Đối với việc thúc đẩy thiết lập cặp chợ biên giới Kim Thành (Việt Nam) – Bắc Sơn (Trung Quốc): Đến thời điểm hiện tại, dự án đang trong giai đoạn thu hú nhà đầu tư.

- Đối với cặp chợ biên giới Bản Vược (Việt Nam) - Bá Sái (Trung Quốc): Căn cứ tiến độ xây dựng cầu đường bộ sông Hồng khu vực Bản Vược (Việt Nam) - Bá Sái (Trung Quốc), tỉnh Lào Cai sẽ trao đổi với tỉnh Vân Nam để tiến hành triển khai các thủ tục thiết lập cặp chợ biên giới này. Đối với cửa khẩu Mường Khương và các cặp cửa khẩu khác được hai bên thống nhất mở chính thức trong thời gian tới sẽ căn cứ nhu cầu mua bán, trao đổi dân cư biên giới.

- Tiếp tục triển khai có hiệu quả "luồng ưu tiên" thông quan cho hàng nông sản qua cặp cửa khẩu quốc tế đường bộ Kim Thành (Lào Cai) - Bắc Sơn (Trung Quốc).

- Tiếp tục tăng cường các hoạt động xúc tiến đầu tư, thương mại: Đón tiếp và làm việc với các tổ chức xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước. Tăng cường tiếp xúc, hợp tác với các cơ quan đại diện các nước đối tác, các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài và các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.

- Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế. Thúc đẩy giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa - xã hội.

Tổng số mục tiêu của Đề án là 09, do cơ bản các mục tiêu trùng với mục tiêu của các đề án khác (Đề án số 02 và Đề án số 04) nên đánh giá lồng ghép với các chỉ tiêu này.

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 41 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 11,9 tỷ đồng, đạt 29,1% tổng nhu cầu vốn.

11.2.Tồn tại, hạn chế

Quan điểm về công tác quản lý và hướng ưu tiên phát triển cửa khẩu phụ, lối mở và các cặp chợ biên giới trên tuyến biên giới Việt – Trung còn nhiều khác biệt nên rất khó khăn cho công tác quản lý biên giới, cửa khẩu nói chung và phát triển biên giới giữa hai Bên nói riêng.

12. Đề án 12: Đề án Nâng cao tiềm lực quân sự tỉnh Lào Cai giai đoạn 2020 2025

12.1.Kết quả đạt được

- Xây dựng bộ đội thường trực: Tổ chức biên chế lực lượng thường trực đúng quy định, phân đội làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu đạt 100%, bằng 105% MTĐA; 100% cán bộ, chiến sỹ có bản lĩnh chính trị vững vàng, chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu được nâng lên, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, đạt 100%MTĐA. Xây dựng lực lượng DBĐV, DQTV: Sắp xếp, biên chế lực lượng dự bị động viên quân số đạt 97,3%, bằng 105% MTĐA (sỹ quan đạt 90,8%); tỷ lệ đảng viên đạt 17,3%, bằng 115% MTĐA. Tỷ lệ dân quân tự vệ đạt 2,03% so với tổng dân số, bằng 107% MTĐA; đảng viên trong dân quân, tự vệ đạt 31,6%, bằng 113% MTĐA; 100% thôn, tổ dân phố có dân quân. Công tác tuyển quân, kiểm tra sẵn sàng động viên, tập huấn, huấn luyện: Chỉ đạo các huyện, thị xã, thành phố tổ chức Lễ giao nhận công dân nhập ngũ năm 2023 bảo đảm đúng, đủ chỉ tiêu, chặt chẽ, an toàn; triển khai công tác tuyển sinh quân sự năm 2023 theo đúng quy định. Công tác  huấn luyện, GDQP&AN: Hoàn thành 100% nội dung, thời gian huấn luyện cho các đối tượng, quân số tham gia đạt 99,4%, kiểm tra đánh giá kết quả 100% các nội dung đạt yêu cầu, có 83,1% khá, giỏi. Công tác quản lý nắm tình hình địa bàn: Quản lý nắm chắc tình hình địa bàn, duy trì 450 cơ sở hiện có; xây dựng mới 14 cơ sở cộng tác viên, cảm tình viên quân báo nhân dân. Tổ chức tập huấn, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ quân báo trinh sát, quân báo nhân dân theo đúng kế hoạch. Xây dựng thế trận KVPT: Đầy đủ, quyết tâm tác chiến phòng thủ và hệ thống kế hoạch bảo đảm, phương án sẵn sàng chiến đấu, kế hoạch phòng chống bão, lũ, cháy nổ, cháy rừng, thường xuyên điều chỉnh bổ sung theo đúng quy định; Thực hiện đúng quy hoạch tổng thể thành phần thế trận trong KVPT tỉnh, huyện; kết hợp chặt chẽ quốc phòng và an ninh với phát triển kinh tế - xã hội.

- Tổ chức diễn tập: Tổng 51/51 cuộc các cấp đạt 100% KH năm, 100% các cuộc diễn tập đạt giỏi và xuất sắc, bảo đảm an toàn. Xây dựng thao trường, bãi tập, doanh trại, trụ sở làm việc, công trình chiến đấu đảm bảo theo quy định.

Trong tổng số 08 mục tiêu đề án có 04 chỉ tiêu đạt 100% và vượt MTĐA, 04 chỉ tiêu đạt trên 70% so với MTĐA.

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 895 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 195,8 tỷ đồng, đạt 21,9% tổng nhu cầu vốn.

12.2. Tồn tại, hạn chế

Chưa bố trí được nguồn kinh phí để triển khai xây dựng các công trình chiến đấu trong KVPT.

13. Đề án 13: Bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2020-2025

13.1.Kết quả đạt được

- Phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang, hệ thống chính trị và của toàn dân, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ ANQG và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, phục vụ hiệu quả cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại. Bảo đảm an ninh mạng, an ninh kinh tế, an ninh xã hội.., không để khủng bố, phá hoại, đột xuất, bất ngờ xảy ra. Tăng cường công tác bảo vế chính trị nội bộ, bảo vệ bí mật nhà nước, bảo vệ cán bộ, đảng viên, tích cực phòng ngừa, ngăn chặn các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

- Triển khai thực hiện quyết liệt, có hiệu quả các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm. Tập trung điều tra, triệt phá nhanh đối với các loại tội phạm như: Giết người, cướp tài sản, mua bán người, các đường dây mua bán, vận chuyển ma túy, các băng ổ nhóm tội phạm...được cấp ủy, lãnh đạo Bộ Công an, tỉnh Lào Cai ghi nhận, đánh giá rất cao, được nhân dân đồng tình ủng hộ; tỷ lệ điều tra khám phá tội phạm về TTXH đạt cao, tỷ lệ điều tra, khám phá tội phạm về trật tự xã hội đạt cao (97%), bằng 121% MTĐA, kiềm chế sự gia tăng của tội phạm và tệ nạn xã hội, tạo sự chuyển biến tích cực về trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; tăng cường cải cách tư pháp, cải cách hành chính; khai thác, sử dụng đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, căn cước công dân; triển khai các Chỉ thị của Đảng đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy. Duy trì và phát huy hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Trong tổng số 18 mục tiêu đề án có 13 chỉ tiêu đạt 100% và vượt MTĐA, 03 chỉ tiêu đạt trên 70% so với MTĐA, 01 chỉ tiêu đạt trên 50% so với MTĐA, 01 chỉ tiêu đạt dưới 50% so với MTĐA.

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 889 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 72,5 tỷ đồng, đạt 8,2% tổng nhu cầu vốn.

13.2. Tồn tại, hạn chế

-Một số nội dung của Đề án chưa đạt được theo kế hoạch đề ra do chưa bố trí được kinh phí thực hiện theo lộ trình, nhất là cơ sở vật chất của lực lượng công an cơ sở.

-Công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc ở địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, kết quả hạ chế. Tình hình khiếu kiện liên quan tranh chấp đất đai, đề bù, giải phòng mặt bằng... xảy ra một số địa phương chưa được giải quyết dứt điểm. Một số loại tội phạm diễn biến phức tạp, chiều hướng tăng như tội phạm trên không gian mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm ma tuy...

 14. Đề án 14: Đề án cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn 2020 2025

14.1.Kết quả đạt được

Về lĩnh vực cải cách thể chế và thủ tục hành chính: Công tác rà soát, hoàn thiện thể chế pháp luật được đẩy mạnh; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh được quan tâm. Các thủ tục hành chính (bao gồm cả TTHC của một số cơ quan, ngành dọc Trung ương đóng trên địa bàn như Công an, Bảo hiểm, Điện lực) được thực hiện tại Trung tâm Phục vụ hành chính công; TTHC cấp huyện, cấp xã được giải quyết theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông (trừ các TTHC được quy định tại khoản 5 Điều 14 Nghị định số 61/2018/NĐ-CP). Đẩy mạnh thực hiện rà soát, đơn giản hóa TTHC, cắt giảm ít nhất 30% thời gian giải quyết TTHC so với quy định của Trung ương. Đẩy mạnh việc tiếp nhận, giải quyết TTHC trên môi trường điện tử. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công và Bộ phận một cửa cấp huyện, cấp xã.

Về cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước: UBND tỉnh ban hành quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức đối với đối với 15[3]sở, ban, ngành, chi cục; Sáp nhập, kết quả giảm 2[4] đơn vị sự nghiệp công lập; kiện toàn chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức đối với 29[5] đơn vị sự nghiệp công lập. HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 53/NQ-HĐND ngày 07/12/2022 về phê duyệt số lượng người làm việc hưởng lương từ ngân sách nhà nước trong các đơn vị sự nghiệp công lập; hợp đồng lao động trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập năm 2023.

Cải cách tài chính công: Cơ cấu, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp, các ngành theo vị trí việc làm, khung năng lực, đảm bảo đúng người, đúng việc, nâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu. Luân chuyển, điều động cán bộ, công chức, viên chức hợp lý giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp, bảo đảm cân đối cơ cấu cán bộ và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực của tỉnh. Tổ chức thí điểm đổi mới phương thức tuyển chọn lãnh đạo, quản lý. Tổng số cán bộ lãnh đạo, quản lý được xem xét sắp xếp, điều động, luân chuyển là 125 người[6]. Đổi mới phương thức tuyển dụng công chức, viên chức về quy trình, thẩm quyền, trách nhiệm; Số công chức được tuyển dụng mới không quá 2/3 số công chức ra khỏi biên chế, số còn lại được bổ sung cho các địa phương, đơn vị cần tăng cường: Đối với công tác tuyển dụng công chức: Thực hiện Đề án số 14-ĐA/TU ngày 11/12/2020 của Tỉnh ủy Lào Cai, từ năm 2020 đến năm 2023, tỉnh Lào Cai đã tổ chức 03 kỳ thi tuyển công chức, với tổng số 84 công chức trúng tuyển/92 chỉ tiêu[7];Tổ chức 02 kỳ tuyển dụng theo Kết luận số 71-KL/TW ngày 24/03/2020, Kết luận số 27-KL/TW ngày 21/02/2022 của Ban Bí thư về xử lý sai phạm trong công tác cán bộ theo, Hướng dẫn số 2965/HD-BNV ngày 15/6/2020 của Bộ Nội vụ về việc xử lý đối với những trường hợp có sai phạm trong công tác tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức với tổng số 125 công chức được tuyển dụng lại[8]. Về việc tuyển dụng viên chức: UBND tỉnh phê duyệt 04 Quyết định về kế hoạch, số lượng, vị trí việc làm cần tuyển viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập ngân sách nhà nước đảm bảo chi thường xuyên thuộc 12 cơ quan, đơn vị, tổng số 970 chỉ tiêu[9].Đối với việc tuyển dụng viên chức sự nghiệp giáo dục và đào tạo có 585 giáo viên trúng tuyển.    

Về xây dựng và phát triển Chính quyền điện tử, Chính quyền số: đã đề cập tại Đề án số 08.

Trong tổng số 18 mục tiêu đề án có 14 chỉ tiêu đạt 100% và vượt MTĐA, 03 chỉ tiêu đạt trên 70% so với MTĐA, 01 chỉ tiêu đạt trên 50% so với MTĐA.

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 120,68 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 100,5 tỷ đồng, đạt 83,2% tổng nhu cầu vốn.

14.2. Tồn tại, hạn chế

- Tính ổn định của các văn bản QPPL Trung ương chưa cao dẫn đến hệ thống văn bản QPPL của địa phương thường xuyên phải có sự thay đổi, do đó, quá trình rà soát hiệu lực văn bản QPPL còn gặp nhiều khó khăn trong việc xác định các nội dung hết hiệu lực và còn hiệu lực của văn bản;

- Việc thực hiện số hóa cơ sở dữ liệu chuyên ngành còn chậm, nhiều phần mềm chuyên ngành của một số bộ, ngành quản lý chưa chia sẻ dữ liệu, liên thông với nhau, dẫn đến khó khăn cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung để tra cứu, thực hiện, khó khăn cho các địa phương trong giải quyết TTHC phục vụ người dân, doanh nghiệp.

- Thiếu chuyên gia về chuyển đổi số. Nguồn nhân lực của tỉnh còn thiếu và yếu, nhiều đơn vị cấp huyện, xã chưa có cán bộ chuyên trách, phụ trách CNTT, an toàn thông tin. Đang có tình trạng thiếu hụt nhân lực CNTT có trình độ chuyên môn sâu và kinh nghiệm làm việc trong các lĩnh vực ưu tiên như ứng dụng phục vụ chính quyền điện tử, đô thị thông minh, an toàn, an ninh thông tin... Chưa phát huy được lợi thế, năng lực, nhân lực có trình độ cao của các Tập đoàn, doanh nghiệp lớn về CNTT đã ký kết hợp tác với tỉnh về Chuyển đổi số. Tỉnh chưa có trường thực hiện đào tạo về lĩnh vực phần mềm và nội dung số, các trường cao đẳng dạy nghề, tuy có đào tạo nhưng không đáp ứng được yêu cầu chuyên môn của doanh nghiệp.

- Vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số vẫn còn thiếu và yếu về hạ tầng viễn thông, CNTT và ứng dụng phục vụ người dân. Khả năng ứng dụng các dịch vụ công nghệ thông tin của người dân còn hạn chế. Công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia sử dụng các ứng dụng, các dịch vụ CNTT do cơ quan nhà nước triển khai đã có nhiều chuyển biến tích cực, đa dạng về hình thức và nội dung, tuy nhiên hiệu quả mang lại chưa cao, nhận thức về lợi ích của việc ứng dụng CNTT ở một bộ phận người dân vẫn còn hạn chế, chưa tạo được thói quen sử dụng cho người dùng.

- Chưa có quy hoạch tổng thể, định hướng rõ nét về xây dựng đô thị thông minh cho nên các cơ quan, đơn vị, địa phương còn lúng túng trong việc đề xuất, triển khai các dự án về đô thị thông minh.

 15. Đề án 15: Đề án phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng Đảng, chính quyền của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội tỉnh Lào Cai giai đoạn 2020 2025

15.1.Kết quả đạt được

Thực hiện Đề án số 15-ĐA/TU và các đề án, nghị quyết của các huyện ủy, thị ủy, thành ủy năm 2023 về công tác giám sát, phản biện xã hội, đối thoại trực tiếp với Nhân dân của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, ngay từ đầu năm MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đã hiệp thương, xây dựng kế hoạch và dự trù kinh phí thực hiện bảo đảm kịp thời, phù hợp. Đến nay cơ bản công tác giám sát, phản biện xã hội, đối thoại theo nội dung đề án trong năm 2023 được triển khai thực hiện hiệu quả.Kết quả hoạt động giám sát bằng đoàn giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cấp tỉnh, cấp huyện: 325 cuộc giám sát, bằng 138,9% MTĐA; 160 cuộc đối thoại, bằng 48,5% MTĐA.

Trong tổng số 02 mục tiêu đề án có 01 chỉ tiêu đạt 100% và vượt MTĐA, 01 chỉ tiêu đạt dưới 50% so với MTĐA.

Tổng hợp nguồn lực thực hiện đề án: Tổng nhu cầu vốn thực hiện Đề án cả giai đoạn: 30,7 tỷ đồng, trong đó đã huy động và triển khai thực hiện được: 7,02 tỷ đồng, đạt 22,9% tổng nhu cầu vốn.

15.2. Tồn tại, hạn chế:

- Đối với cấp huyện kinh phí thực hiện được cấp chung cho Ủy ban MTTQ và khối đoàn thể, chưa phân khai cụ thể cho từng tổ chức chính trị - xã hội; kinh phí thẩm định của nhiều huyện còn thấp không đạt theo mục tiêu Đề án đề ra. Tỷ lệ cấp kinh phí thấp ảnh hưởng đến việc thiện mục tiêu của đề án.

- Mục tiêu của đề án đạt thấp, trong đó một số nội dung, lĩnh vực giám sát theo mục tiêu đề án chưa được quan tâm triển khai, khi xây dựng kế hoạch năm MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội chưa bám vào mục tiêu của Đề án. Việc tổ chức hiệp thương, xây dựng kế hoạch giám sát, phản biện, đối thoại hằng năm của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội ở một số địa phương chưa tạo sự thống nhất, kinh phí chưa đạt theo yêu cầu của mục tiêu Đề án.

16. Đề án 16: Đề án nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và công tác phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Lào Cai, giai đoạn2020